Một thực tế cho thấy rằng các ông bố bà mẹ luôn “thả rông” con trong 6 năm đầu đời rồi ngay khi vào lớp 1, con đã bị thúc ép “lớn nhanh” với yêu cầu biết đọc, biết viết, biết làm toán mà không hề có bất kì tình yêu nào với những điều đó.
Trước khi con cái chuẩn bị vào lớp 1, các ông bố bà mẹ đã cuống cuồng tìm kiếm trên google, hỏi han người thân bạn bè về những hành trang con “phải mang” khi lên lớp 1 cũng như bị cuốn vào những tranh luận “có nên cho con học trước hay không?” Có bố mẹ lo lắng, sốt ruột, thúc ép, thuê gia sư về rèn, tìm chỗ cho con học thêm…
Bố mẹ có thể tưởng tượng một đứa trẻ trong 6 năm chủ yếu là chơi đùa nay phải thay đổi ngay tức khắc để học tập; một đứa trẻ được phép đi lại, nhảy múa nay phải ngồi yên suốt giờ học để nghe giảng; một đứa trẻ xung quanh chỉ có ô tô, búp bê nay toàn là sách vở, bút thước. Sự thay đổi ngay tức khắc ấy chẳng khác nào một cây non bị thúc ép mà vụt lớn trong đêm.
Về bản chất, trẻ em không bao giờ ngại ngần hay không có nhu cầu học. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, bé đã tự học rất nhiều điều. Các bé đón nhận mọi thứ từ thế giới với một đôi mắt mở to, háo hức, tò mò, biến những chất liệu chúng học được trở thành hành trang sống.
Nhưng chính bố mẹ, những người ủng hộ “phát triển tự nhiên” đã ngăn cản quyền được học của con ngay từ khi còn nhỏ. Để rồi 6 năm sau lại dùng đòn roi và kỷ luật ép buộc con vào một khuôn phép cứng nhắc, khiến việc đi học trở thành nỗi ám ảnh không nguôi.
Đã có biết bao bài viết về những “cuộc đua vào lớp 1”, “vào lớp 1 gian nan như thi Đại học” hay “nỗi ám ảnh bài tập về nhà của học sinh lớp 1” khiến xã hội giận dữ và phản đối. Họ chỉ trích chương trình giáo dục nặng nề khiến học sinh quá tải. Họ chỉ trích những ông bố bà mẹ khác đã cho con học trước, khiến trẻ mới vào lớp 1 đã có sự phân chia cấp bậc kiến thức. Họ chỉ trích các thầy cô giáo không quan tâm sát sao tất cả 50 học sinh trong một lớp khiến đứa này chậm, đứa kia nhanh.
Nhưng họ chưa bao giờ chỉ trích chính mình vì đã không biết tới các khả năng của con, đã để hàng trăm đứa trẻ khác nhau đều lớn lên trong một khuôn mẫu cố định “6 tuổi đi học, 18 tuổi vào đại học, 23 tuổi đi làm”. Không có ước mơ trở thành nhà thám hiểm, nhà khoa học, vận động viên…Hàng trăm giấc mơ giống nhau được dệt bởi suy nghĩ của người lớn chỉ là “đại học, trưởng phòng, giám đốc”.
Hãy nhớ lại những khi con hỏi “Sao mặt trời lại nóng?”, “Sao một người thế kia lại chui được vào tivi?”, “Cái gì làm cho hoa nở?”.
Khi trẻ còn đang thể hiện sự tò mò với sinh học, điện tử và thiên văn thì chúng ta lại thường bảo trẻ ra chỗ khác và đi chơi đồ chơi. Đồng thời lại kết luận rằng con còn bé, có giải thích con cũng không hiểu và không nhớ gì cả. Chắc chắn rằng trẻ chỉ thích hợp với ô tô hay máy bay mà thôi.
Bố mẹ thường rất thành công khi tách trẻ khỏi việc học trong giai đoạn mà trẻ thích học nhất của cuộc đời.
Và thật là mỉa mai khi trẻ lớn hơn, bố mẹ lại chê trách trẻ ngu dốt khi không muốn học thiên văn, vật lí hay sinh học.
Người dân Do Thái nổi tiếng bởi trí tuệ và sự sáng tạo đã dạy con ngay từ khi còn nhỏ. Họ không chỉ dạy con kiến thức sách vở mà còn mang cả thế giới đến với con, để tầm mắt và tư duy con rộng mở.
Đất nước Nhật Bản đứng đầu thế giới với chỉ số IQ trung bình từ 130 trở lên đã trải qua những phân vân và đấu tranh với định kiến giáo dục. Cuối cùng, khoa học cũng như tình yêu với con đã dành chiến thắng. Các em bé Nhật Bản được nghe nhạc và học nhạc từ sớm, được dạy chữ sớm, thường xuyên trò chuyện với bố mẹ và được đi dạo, đi công viên hay tham quan viện bảo tàng.
Đến khi vào lớp 1, khao khát học hỏi không vì học lại những điều đã biết mà mất đi, ngược lại, thế giới rộng lớn ngoài cánh tay bố mẹ càng khiến bé thích thú và hăng say khám phá.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét